Tạp nhiễm vi nhựa (microplastics) trong cơ thể đang trở thành một mối lo ngại phổ biến trong thế giới hiện đại. Có thể bạn từng bắt gặp những tiêu đề truyền thông như: mỗi tuần bạn nạp vào cơ thể lượng vi nhựa tương đương với một chiếc thẻ tín dụng 💳. Với cách nói như vậy, ai chả sợ.
Tuy nhiên, một phát hiện gần đây gây đảo lộn hoàn toàn lĩnh vực nghiên cứu về vi nhựa, hé lộ những khiếm khuyết đáng kể của những dữ kiện trước đó, và những thông điệp hù dọa trên mạng xã hội đến từ chúng.
Bài viết tổng hợp lại nội dung được chia sẻ từ hai bác sĩ Gil Calvarho và Bran Stanfield, thảo luận về nguồn gốc của mối lo ngại hiện tại về tạp nhiễm vi nhựa, những vấn đề của cách chúng được truyền thông trên mạng xã hội, và những gì chúng ta có thể làm trước những thông tin này.
NGUỒN GỐC CỦA MỐI LO NGẠI HIỆN ĐẠI VỀ TẠP NHIỄM VI NHỰA VI NHỰA
Những lo ngại hiện tại về lượng vi nhựa con người tiêu thụ trong sinh hoạt và tác hại của chúng bắt nguồn từ một số sự kiện.
Ở trên chúng ta đã đề cập đến những tuyên bố như “mỗi người tiêu thụ lượng vi nhựa bằng một chiếc thể tín dụng mỗi tuần”. Tiêu đề này dựa trên một bài báo tổng quan được xuất bản vào năm 2021: ước tính lượng vi nhựa được cơ thể tiêu thụ hàng ngày. Các tác giả của bài báo này đưa ra một khoảng khá rộng: 0.1-5 g/tuần.
Một lo ngại liên quan khác là vi nhựa tích lũy trong các cơ quan nội tạng ở người, đặc biệt những cơ quan được coi là tối quan trọng như Não bộ. Nguồn gốc: một nghiên cứu khoa học xuất bản năm 2025 trên tạp chí Nature Medicine, ghi nhận rằng, các mẫu mô Não chứa trung bình 4917 microgram vi nhựa trong mỗi gram mô Não, tương đương với 0.5% trọng lượng não của người.
Những thông tin này thường nhanh chóng được lan truyền rộng rãi và nhận được nhiều tương tác vì sự bất thường của chúng. Một vật thể lạ, nhân tạo, gần như không thể nhận biết bằng mắt thường, lại có thể thâm nhập và tích lũy trong cơ thể, và có tiềm năng gây hại. Bắt gặp những tin như vậy có thể khiến nhiều người lo lắng, nhất là với sự phổ biến của nhựa trong môi trường sống hiện đại.

VẤN ĐỀ VỚI NHỮNG THÔNG TIN TRÊN
Cơ sở thiếu chắc chắn
Vấn đề đầu tiên của những giá trị ước tính lượng vi nhựa mỗi người tiêu thụ thường được chia sẻ đến từ sự thiếu chắc chắn của chúng.
Ngay từ giá trị được sử dụng trong những tiêu đề về “ăn thẻ tín dụng mỗi tuần”, bản thân khoảng giá trị được sử dụng, “0.1 - 5 g/tuần” có khoảng cách giữa mức thấp nhất và cao nhất rất lớn, cách nhau 50 lần. Điều này phản ánh vấn đề cố hữu trong cách thức đo lường. Việc lựa chọn nghiễm nhiên mức cao nhất đồng nghĩa lựa chọn một tình huống ngoại lệ, trong khi mặt bằng chung sẽ còn thấp hơn nhiều. Đáng chú ý, khoảng giá trị ước tính trên đến từ hơn 50 nghiên cứu trước đó, với phương pháp đo lường khác nhau, định nghĩa khác nhau về kích thước tối thiểu của hạt vi nhựa để được tính, và những dự báo khác nhau về lượng mỗi người tiêu thụ từ nước, thực phẩm, và không khí.
Ngay sau khi được công bố, khoảng giá trị trên và những thông điệp liên quan lập tức bị phản bác bởi giới khoa học. Nghiên cứu ban đầu khi bị đánh giá lại bởi Pletz đã được chỉ ra chứa nhiều lỗi sai nghiêm trọng, dẫn đến kết quả ước tính vượt xa giá trị thực tế; nói cách khác, giá trị thấp nhất 0.1 g/tuần còn có thể được coi là ước tính lố. Giá trị chính xác hơn (ít nhất với những phương pháp hiện tại) tỏ ra thấp hơn nhiều, với một nhóm nghiên cứu ước tính là 4.1 microgram/tuần (1 microgram [μg] = 0.001 mg), nhỏ hơn 1 triệu lần so với ước tính thẻ tín dụng. Ở tốc độ này, tích lũy lượng vi nhựa bằng 1 chiếc thẻ tín dụng sẽ mất đến 23000 năm.

Tuy nhiên, rất có thể cả giá trị nhỏ hơn kia vẫn là tính lố.
Tạp nhiễm do ‘động chạm’
Đây có lẽ là lí do có vẻ khá ngớ ngẩn, nhưng rốt cục lại vô tình xảy ra do sự bất cẩn trong quá trình thực hiện thí nghiệm.
Vì tính nhạy cảm của nghiên cứu, một quy trình phổ biến là lau dọn thiết bị sử dụng trong phòng nghiên cứu kĩ càng để tránh tạp nhiễm từ phòng thí nghiệm ảnh hưởng đến kết quả.
Tuy nhiên, thủ phạm vô tình lại đến từ thứ mà các nhà nghiên cứu sử dụng để tránh gây tạp nhiễm khi tương tác với mẫu vật: găng tay.
Găng tay sử dụng trong phòng thí nghiệm thường chứa stearate, một chất chống dính phủ ngoài để găng tay không dính vào dụng cụ thí nghiệm Tuy nhiên, khi được đo lường bằng thiết bị quang phổ, nó gần như không phân biệt được với hạt vi nhựa, cụ thể là Polyethylene (một loại vi nhựa khá phổ biến).
Đó là điều Madeline Clough và đồng nghiệp phát hiện được gần đây. Họ ấn găng tay vào một bề mặt sạch (với một mức áp lực nhất định), sau đó đo lường dư chất trên bề mặt. Kết quả ghi nhận 2000 hạt vi nhựa ‘giả’ tính trên mm² đối với găng tay tiêu chuẩn của phòng thí nghiệm.
Sau đó nhóm nghiên cứu rà soát phương pháp thí nghiệm của một số bài báo khoa học về vi nhựa mới công bố tại thời điểm đó. Trong tổng số 26 bài báo, 81% có khuyến cáo sử dụng găng tay, nhưng chỉ 2 có cảnh báo về nguy cơ tạp nhiễm. Điều này phản ánh một lỗ hổng khổng lồ trong quy trình thực hiện thí nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu này.
Đáng chú ý, nguy cơ tạp nhiễm từ găng tay đã được dấy lên trước đó cách đây 6 năm (vào năm 2020) bởi một nhóm nghiên cứu tại Viện Thủy Văn Học Liên Bang Đức nhưng dường như đã bị lãng quên (có lẽ một phần vì ảnh hưởng của đại dịch Covid).
Vi nhựa (hay là chất Béo)?
Trước tiên, chúng ta nên hiểu một chút về cách các nhà nghiên cứu đo lường (hay đúng hơn là ước tính) lượng vi nhựa trong một mẫu vật.
Một phương pháp phổ biến là “quang phổ rung” (vibrational spectroscopy). Phương pháp này dựa trên nguyên tắc rằng, kết nối hóa học trong mỗi hợp chất có một phản ứng đặc trưng đối với rung động, giống như một “dấu vân tay” đặc trưng của mỗi người. Dựa vào đây các nhà nghiên cứu có thể đối chiếu phản ứng đó với dữ kiện từ thư viện tập hợp phản ứng của nhiều hợp chất khác nhau, từ đó xác định được mẫu vật có chứa vi nhựa không, và chứa bao nhiêu. Phương pháp này không phá hủy mẫu vật, và là phương pháp được xem xét bởi “Clough và đồng nghiệp” ở trên.
Một phương pháp phổ biến khác nhưng dẫn đến tiêu hủy mẫu vật là Py-GC-MS (Pyrolysis-Gas Chromatography/Mass spectrometry), theo đó mẫu vật được nung nóng, khiến nó giải phóng các hợp chất khác nhau. Các nhà nghiên cứu sẽ phân tích thành phần hóa học của những hợp chất này và ước tính lượng vi nhựa trong mẫu vật. Py-GC-MS được sử dụng để ước tính lượng vi nhựa trong các mẫu mô trên người, như mô Não - như đã đề cập ở trên, được sử dụng làm cơ sở cho quan điểm “vi nhựa chiếm đến 0.5% trọng lượng não người”.
Tuy nhiên, vấn đề của nó là, phương pháp này không phân biệt đươc được vi nhựa với… chính mô Não. Cụ thể, khi bị phân hủy bởi nhiệt, chất Béo (lipid, chiếm 55-60% trọng lượng khô của não) giải phóng các hợp chất y hệt như Polyethylene.
Đây là điều “Rauert và đồng nghiệp” phát hiện được, khi họ trực tiếp đánh giá hiệu quả của phương pháp Py-GC-MS cho mục đích phân tích và ước tính vi nhựa trên người. Vấn đề nhầm lẫn giữa nhựa và chất Béo không được giải quyết hay kiểm soát thỏa đáng trong những nghiên cứu trước đó, trong đó có nghiên cứu “nhựa trong não” được giật tít rùm beng ở trên. Quan sát này cũng đã được khẳng định bởi các nhà nghiên cứu khác, quan sát được cùng hiện tượng một cách độc lập.
RÚT RA ĐƯỢC GÌ
Tổng kết lại, những nghiên cứu hiện tại ước tính lượng vi nhựa trong cơ thể có những hạn chế rõ rệt, có xu hướng đem lại những giá trị ước tính thiếu tin cậy và có biên độ dao động rất lớn, chịu ảnh hưởng bởi những khác biệt và nhiễu loạn trong quy trình thực hiện nghiên cứu. Điều không may là, các kênh truyền thống có xu hướng chọn nhặt những chi tiết gây chấn động nhất để thu hút tương tác mạnh mẽ từ dư luận, dẫn đến sự hoang mang bị thổi phồng.
Những tin kiểu này có thể đem lại sự thất vọng với phương pháp khoa học, nhưng thực chất đây lại là một tín hiệu khả quan. Nó cho thấy khoa học đang thực hiện tính năng của nó: tự phát hiện và sửa chữa sai lầm. Bằng cách tự kiểm điểm những sai sót trong phương pháp nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu về vi nhựa, cũng như bất cứ lĩnh vực nào khác, sẽ đem lại những dữ kiện và hiểu biết mới chuẩn xác hơn, có chất lượng cao hơn trong dài hạn.
Dù vậy, nguy cơ đối với sức khỏe từ vi nhựa là có cơ sở, ít nhất dựa trên những dữ kiện hiện có liên quan đến 3 loại hợp chất sau thường được sử dụng trong đồ nhựa: BPA, Phthalates, và PFAS.
BPA (Bisphenol A, có nhiều trong nhựa trong cứng) và Phthalates (có nhiều trong nhựa dẻo) đều đã được ghi nhận xuất hiện trong nước tiểu, và được liên hệ có tương quan với những hệ quả tiêu cực đến sức khỏe tim mạch và chuyển hóa. Tạp nhiễm những loại nhựa này xảy ra khi hộp hay túi bị nung nóng hay cọ xước.
PFAS cũng đã được liên hệ với những hệ quả tiêu cực đối với sức khỏe. Tạp nhiễm PFAS có thể đến từ rất nhiều nguồn, do những ứng dụng đa dạng của loại hóa chất này trong môi trường hiện đại (vd: trong chảo chống dính, mĩ phẩm, chỉ nha khoa
Tóm lại, hiện tại chúng ta đã biết những điều sau đây về vi nhựa:
Vi nhựa có tồn tại trong môi trường.
Chúng có thể thâm nhập vào cơ thể thông qua thực phẩm, thức uống, hít thở, hay tiếp xúc với các tác nhân khác ngoài môi trường
Vi nhựa bộc lộ độc tính nhanh chóng khi tiếp xúc với động vật hay mẫu mô người (vd: tuyến Yên, tinh hoàn) với liều lượng rất lớn, và một số loại được liên hệ với những kết quả bất lợi cho sức khỏe trong dài hạn.
Tuy nhiên, những điều sau còn chưa sáng tỏ:
Chúng ta đang tiếp xúc và tiêu thụ chúng vời liều lượng và tần suất (vd: hàng ngày, hàng tuần) như thế nào?
Ở liều lượng bao nhiêu chúng gây hại? Và trong khung thời gian cụ thể như thế nào?
Vì vậy, trong khi giới khoa học đang đi tìm câu trả lời chính xác hơn cho những câu hỏi này, điều chúng ta có thể làm là hạn chế tiếp xúc với những hợp chất đã được ghi nhận có tiềm năng gây hại.
Bạn có thể thực hiện một số điều đơn giản sau:
Tránh hâm nóng đồ ăn trong hộp nhựa: như đã đề cập ở trên, làm nóng đồ nhựa có thể khiến vi nhựa thâm nhập vào thực phẩm hay đồ uống.
Tránh tái sử dụng đồ nhựa mềm quá nhiều lần, như chai nước. Trong khi tái sử dụng có thể đóng góp vào việc bảo về môi trường, tái sử dụng quá nhiều những vật dụng thông dụng như chai nước có thể làm hao mòn kết cấu của vật dụng, tăng nguy cơ tiếp xúc và tiêu thụ vi nhựa.
Lựa chọn và thay thế đồ gia dụng: lựa chọn các sản phẩm không chứa BPA (BPA free) và PFAS (vd: chỉ nha khoa). Sử dụng đồ thủy tinh hay kim loại để thay thế đồ đựng thực phẩm bằng nhựa (đặc biệt những đồ tiếp xúc với nhiệt). Thay thế nồi/chảo chống dính bằng nồi/chảo inox hoặc thép không gỉ.
Quan trọng hơn hết, hãy tập trung vào xây dựng và duy trì thói quen ăn uống và sinh hoạt tổng quan lành mạnh. Thay vì lo lắng những tác hại tiềm tàng của vi nhựa, những phương án cơ bản này vẫn sẽ có ảnh hưởng lớn hơn đến sức khỏe trong dài hạn.












